Tranh chấp hợp đồng mua bán cổ phần

Trong ngày 15 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử công khai sơ thẩm Vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 142/2019/TLST-KDTM ngày 13 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2019/QĐXX ngày 31 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn : Bà Trịnh Thị Thanh N, sinh năm 1979; Hộ khẩu thường trú: Tổ x phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội và nơi cư trú: N36 ngõ 67A Trương Định, quận Hai bà Trưng, TP Hà Nội. Giấy chứng minh thư nhân dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 13/9/2018 do Cục cảnh sát ĐKQL Cư trú và DLQG về dân cư.

(Bà N vắng mặt tại phiên toà)

- Bị đơn : Công ty C.T.T.C I – Ngân hàng X (tên công ty viết tắt là Y) Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế doanh nghiệp Nhà nước, mã số doanh nghiệp: xxxxxxxxxxx (số ĐKKD cũ: xxxxxxxxxx) đăng ký lần đầu ngày 07/12/2005; đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 06/11/2018); Địa chỉ trụ sở chính: Số x, phố y, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Ngọc T – Tổng Giám đốc - Phụ trách điều hành Công ty Y: Bà Trương Thị Xuân T - Tổng giám đốc Công ty C.T.T.C I Ngân hàng X (Y) theo Quyết định về bổ nhiệm cán bộ số 807/QĐ – HĐTV – UBNS ngày 02/10/2019 của ông Phạm Hoàng Đ - TM. Hội đồng thành viên - TUQ. Chủ tịch Hội đồng thành viên – Thành viên Hội đồng thành viên - Ngân hàng X).

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Mạnh T (Sinh năm 1974; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 18A Tôn Đức Thắng, phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng) – Phó phòng phụ trách phòng kế hoạch Tổng hợp và quản trị rủi ro Công ty Y (Theo Giấy ủy quyền số 598/Y – HCNS ngày 26/12/2019 của Bà Trương Thị Xuân T - Tổng giám đốc, phụ trách điều hành Y). (Ông Nguyễn Mạnh T có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

 

Biết Công ty Y thực hiện cổ phần hóa và chào bán cổ phần, bà N đã tự nguyện mua 10.500 cổ phần của công ty Y thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội với tổng số tiền là 109.098.000 đồng. Năm 2010, Công ty Y đã cấp “Giấy chứng nhận nộp tiền mua cổ đông”, bà đã nhiều lần yêu cầu Công ty Y ghi nhận tư cách cổ động nhưng đến nay (hơn 10 năm kể từ ngày mua) việc cổ phần hóa của Y đã không thành công. Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu Công ty Y phải hoàn trả số tiền 109.098.000 đồng bà đã bỏ ra mua cổ phần và yêu cầu trả lãi cho khoản tiền trên.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định: Hành vi của phía Y đồng ý bán tổng số 10.500 (mười nghìn năm trăm) cổ phần cho bà Trịnh Thị Thanh N thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội còn bà N đồng ý mua tổng số 10.500 (mười nghìn năm trăm) cổ phần của Y được coi là Hợp đồng mua bán cổ phần hợp pháp. Trong Hợp đồng này nghĩa vụ của bà N là thanh toán khoản tiền mua 10.500 (mười nghìn năm trăm) cổ phần cho Y còn nghĩa vụ của Y là thực hiện việc cổ phần hóa và ghi nhận tư cách cổ đông của bà N trong Y. Trường hợp chào bán công khai mà không bán hết thì Công ty Y phải báo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa để điều chỉnh cơ cấu vốn điều lệ để chuyển 100% vốn Nhà Nước thành Công ty cổ phần sau đó tiến hành họp Đại hội cổ đông lần đâu ghi nhận tư cách cổ đông của những nhà đầu tư đã mua cổ phần của Y (như bà N). Tuy nhiên trên thực tế sau khi chào bán không hết số lượng cổ phần cho các nhà đầu tư thì phía Y không hề tiến hành thêm bất cứ hoạt động nào khác để hoàn thành việc cổ phần hóa. bà N yêu cầu công ty Y hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận của bà N là 109.098.000 đồng là khoản tiền bà N đã thanh toán cho công ty Y để mua 10.500 cổ phần của Y tại Trung Tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội là có căn cứ nên được chấp nhận.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cho bà Trịnh Thị Thanh N đối với Công ty C.T.T.C I - Ngân hàng X.

2. Tuyên bố chấm dứt hiệu lực của Hợp đồng mua bán cổ phần giữa bà Trịnh Thị Thanh N và Công ty C.T.T.C I - Ngân hàng X.

Buộc Công ty C.T.T.C I - Ngân hàng X phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Trịnh Thị Thanh N số tiền: 109.098.000 đồng (một trăm linh chín triệu, không trăm chín mươi tám nghìn đồng) là khoản tiền bà Trịnh Thị Thanh N đã thanh toán cho Công ty C.T.T.C I – Ngân hàng X theo “Giấy chứng nhận nộp tiền mua cổ phần” năm 2010.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

 

 Nguồn: thuvienphapluat.vn

Để biết thêm thông tin chi tiết về các dịch vụ liên quan tới tư vấn, xử lý tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bởi OSLAW hãy liên hệ với chúng tôi qua đường dây nóng số 0984 893 239 / 0395 974 826 hoặc email tới oslaw.services@gmail.com.

0.06251 sec| 1915.289 kb