Hòa giải thương mại

Hòa giải thương mại cùng với thương lượng, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thay thế đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới, đặc biệt tại quốc gia có nền kinh tế phát triển và được các cá nhân, tổ chức kinh tế ưa chuộng do những ưu điểm vượt trội của phương thức này so với tố tụng tòa án. Ở Việt Nam, phương thức hòa giải đã được ghi nhận mang tính nguyên tắc trong các văn bản luật, dưới luật cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Đây là chủ trương quan trọng làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, trong đó có hòa giải thương mại.

Thực hiện Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 29 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020, Bộ Tư pháp được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan xây dựng và trình Chính phủ Nghị định về Hòa giải thương mại. Ngày 26/2/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại có hiệu lực từ ngày 15/4/2017 (sau đây là Nghị định).
Nghị định số 22/2017/NĐ-CP là văn bản duy nhất điều chỉnh phương thức hòa giải thương mại bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

  1. Phạm vi giải quyết tranh chấp

Tương tự như phạm vi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, Điều 2 Nghị định 22/2017/NĐ-CP quy định về phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại.
Điều kiện tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thương mại nếu các bên có thoả thuận hòa giải. Các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng hòa giải trước, sau khi xảy ra tranh chấp hoặc tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp.

  1.  Tiêu chuẩn của hòa giải viên thương mại                                               

Điều 7 Nghị định 22/2017/NĐ-CP quy định các tiêu chuẩn của hòa giải viên thương mại như có năng lực hành vi dân sự, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín, độc lập, vô tư, khách quan, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác trong lĩnh vực được đào tạo từ 02 năm trở lên, có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật, hiểu biết tập quán kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực liên quan. Hòa giải viên thương mại bao gồm hòa giải viên thương mại vụ việc và hòa giải viên thương mại của tổ chức hòa giải thương mại.

  1. Tổ chức hòa giải thương mại

Tổ chức hòa giải thương mại bao gồm Trung tâm hòa giải thương mại và Trung tâm trọng tài có cung cấp dịch vụ hòa giải thương mại. Các Trung tâm hòa giải thương mại chính thực hoạt động sau khi được Bộ Tư pháp cấp Giấy phép thành lập và đăng ký tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Trung tâm đặt trụ sở.

  1.  Trình tự, thủ tục hòa giải thương mại

Trình tự, thủ tục hòa giải thương mại về cơ bản được xây dựng trên cơ sở tham khảo Luật mẫu về hòa giải thương mại của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL).
 Theo Điều 14, Điều 17 Nghị định 22/2017/NĐ-CP thì khi tham gia hòa giải, các bên có các quyền, nghĩa vụ như lựa chọn hòa giải viên thương mại, trình tự, thủ tục hòa giải, địa điểm, thời gian để tiến hành hòa giải, yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải, được bày tỏ ý chí và quyết định về nội dung giải quyết hòa giải, có nghĩa vụ trình bày đúng sự thật, các tình tiết của tranh chấp, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ tranh chấp theo đề nghị của hòa giải viên thương mại, thi hành thỏa thuận hòa giải thành, tôn trọng hòa giải viên thương mại, các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Các bên có quyền lựa chọn quy tắc hòa giải của tổ chức hòa giải thương mại làm phương thức tiến hành hòa giải hoặc tự thỏa thuận phương thức tiến hành hòa giải. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về phương thức tiến hành hòa giải thì hòa giải viên tiến hành thủ tục hòa giải theo phương thức mà hòa giải viên thương mại thấy phù hợp với tình tiết vụ việc, nguyện vọng của các bên và được các bên chấp thuận.

  1. Thỏa thuận hòa giải thành và công nhận kết quả hòa giải thành

Trường hợp các bên đạt được thỏa thuận về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ tranh chấp thì các bên tiến hành ký kết thỏa thuận hòa giải thành có các nội dung chính như căn cứ tiến hành hòa giải, thông tin cơ bản về các bên, nội dung chủ yếu của vụ việc, thỏa thuận đạt được và giải pháp theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật. Văn bản về kết quả hòa giải thành có hiệu lực thi hành đối với các bên theo quy định của pháp luật dân sự. Việc công nhận kết quả hòa giải thành được xem xét công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Ngoài ra, Điều 15 Nghị định 22/2017/NĐ-CP quy định trong trường hợp hòa giải không thành các bên có quyền yêu cầu trọng tài hoặc tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
          6. Về kết quả hòa giải thương mại

Sau khi Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại được ban hành hành, Bộ Tư pháp đã chủ động ban hành Quyết định số 944/QĐ-BTP ngày 3/7/2017 ban hành kế hoạch triển khai Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại, Công văn số 2147/BTP-BTTP ngày 26/6/2017 về việc triển khai Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, Quyết định số 500/QĐ-BTP ngày 26/3/2018 về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành trong lĩnh vực hòa giải thương mại thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, Thông tư 02/2018/TT-BTP ngày 26/2/2018 ban hành và hướng dẫn sử dụng một số biểu mẫu về tổ chức và hoạt động hòa giải thương mại có hiệu lực từ ngày 20/4/2018.
Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ, ngành tổ chức Hội nghị để tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các nội dung của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đến các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp trong phạm vi cả nước.

Tại địa phương, hoạt động triển khai thi hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP cũng đã được quan tâm thực hiện. Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực, chủ động tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai; tổ chức tuyên truyền, phổ biến dưới nhiều hình thức về mục đích, ý nghĩa của việc ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, về vai trò, tính hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại, quán triệt nội dung cơ bản của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP tới các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp ở địa phương, đội ngũ hòa giải viên hương mại, trọng tài viên, luật sư, báo cáo viên pháp luật.

Tính đến nay, cả nước đã có 07 Trung tâm hòa giải thương mại được Bộ Tư pháp cấp giấy phép thành lập, 03 Trung tâm trọng tài được bổ sung chức năng hòa giải thương mại, chủ yếu là ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và gần 100 hòa giải viên thương mại vụ việc đã đăng ký tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên cho tới nay, chưa có số liệu báo cáo về vụ việc tranh chấp thương mại được giải quyết theo phương thức hòa giải thương mại.

Để biết thêm thông tin chi tiết về các dịch vụ Hòa giải thương mại bởi OSLAW hãy liên hệ với chúng tôi qua đường dây nóng số 0984 893 239 / 0395 974 826 hoặc email tới oslaw.services@gmail.com.

0.01886 sec| 1927.102 kb