Giải quyết tranh chấp về SHTT

Thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án

TS. NGUYỄN HẢI AN - TAND Cấp cao tại Hà Nội - Tranh chấp quyền SHTT có tính chất đặc thù, đối tượng sở hữu là tài sản vô hình, các loại hình tranh chấp còn tương đối mới, trong khi đó, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp này cũng chưa được hoàn thiện, nên việc giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT đang gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc.

10 tháng 12 năm 2020

Dẫn nhập

Trong điều kiện phát triển ngày càng cao của khoa học công nghệ, hành vi xâm phạm quyền SHTT ngày một gia tăng về số lượng, tinh vi về tính chất, nghiêm trọng về hậu quả. Nhằm khôi phục, khắc phục các thiệt hại để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người có quyền bị xâm phạm thì việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT) bằng biện pháp dân sự là chủ yếu. Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng đã ghi nhận thẩm quyền dân sự cho Tòa án nhân dân để giải quyết các tranh chấp về SHTT, bao gồm: Quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức. Việc giải quyết loại tranh chấp này dựa trên cơ sở nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định chung trong BLTTDS (BLTTDS). Có thể nói, tranh chấp quyền SHTT có tính chất đặc thù, đối tượng sở hữu là tài sản vô hình, các loại hình tranh chấp còn tương đối mới, trong khi đó, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp này cũng chưa được hoàn thiện, nên việc giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT đang gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc.

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự tranh chấp về quyền SHTT tại Tòa án

Theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp SHTT của Tòa án theo tố tụng dân sự được xác định như sau[1]:

      +     Nếu tranh chấp SHTT thuần túy là tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện;

      +  ​​​​​​​  ​​​​​​​ Nếu tranh chấp SHTT thuần túy là tranh chấp dân sự nhưng có đương sự hoặc đối tượng SHTT ở nước ngoài, thuộc quyền của Tòa án cấp tỉnh;

      +  ​​​​​​​  ​​​​​​​ ​​​​​​​Nếu tranh chấp SHTT giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được coi là tranh chấp thương mại, kinh doanh và thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh[2].

Trước đây, để phân biệt hai loại tranh chấp này pháp luật đã đưa ra dấu hiệu “mục đích lợi nhuận”. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã giải thích rõ: “Đối với các tranh chấp quy định tại khoản 2 Điều 29 BLTTDS năm 2004 thì không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận thì đó là tranh chấp về dân sự quy định tại khoản 4 Điều 25 BLTTDS năm 2004[3]. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tranh chấp về quyền SHTT, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau mà không có mục đích lợi nhuận thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân (TAND) cấp huyện; tranh chấp về quyền SHTT, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thì thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương[4]. Đồng thời, Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn xác định tranh chấp kinh doanh, thương mại thì không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại; nếu chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận, thì tranh chấp đó là tranh chấp về dân sự[5].

Thực tế cho thấy, hầu hết các hành vi xâm phạm quyền SHTT đều vì mục đích lợi nhuận. Khi thụ lý các vụ án tranh chấp Quyền SHTT, các cấp Tòa án khó xác định rõ ràng được cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận; căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án có thể xác định được bên bị đơn có mục đích lợi nhuận, còn nguyên đơn, không xác định được. Vì vậy, khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp Quyền SHTT, có Tòa án xác định vụ án kinh doanh, thương mại; có Tòa xác định vụ án dân sự; nên giữa Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh nhiều trường hợp “đùn đẩy” thẩm quyền cho nhau; gây khó khăn cho người khởi kiện.

Chúng ta phải thừa nhận rằng: “Rõ ràng, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp về quyền SHTT theo thủ tục tố tụng dân sự chưa cụ thể, chưa đầy đủ. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan giải quyết tranh chấp và cho cả đương sự, làm cho hiệu quả thực thi quyền SHTT ở nước ta không cao. Bởi vậy, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền SHTT nói chung và giải quyết tranh chấp về quyền SHTT theo thủ tục tố tụng dân sự nói riêng vô cùng cần thiết”[6]. Có ý kiến cho rằng: “Nên thống nhất giao các vụ án giải quyết tranh chấp quyền SHTT, chuyển giao công nghệ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện”[7]. Chúng tôi nhận thấy, so với các tranh chấp dân sự nói chung, tranh chấp về quyền SHTT thường phức tạp, nên năng lực của Thẩm phán Tòa án cấp huyện không thể đảm đương được. Do đó, pháp luật tố tụng dân sự cần có hướng dẫn áp dụng thống nhất tất cả tranh chấp về quyền SHTT, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau có mục đích lợi nhuận hay không có mục đích lợi nhuận thì đều thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

  1. Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự

Theo pháp luật Việt Nam thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm quyền SHTT, người xâm phạm ­­có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp[8]. Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền SHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền SHTT[9].

So với xử lý bằng biện pháp hành chính, việc xử lý bằng biện pháp dân sự tại Tòa án chiếm tỷ lệ khiêm tốn và còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ người khởi kiện, các tổ chức và cá nhân đang kinh doanh trên thương trường e ngại “tai tiếng” phải ra “hầu Tòa” làm giảm uy tín của họ; hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ bị xâm phạm quyền SHTT của họ giảm sức cạnh tranh trên thị trường và gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng. Nguyên nhân khách quan từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, thời gian giải quyết tranh chấp thường kéo dài quá thời hạn luật định; làm cho chủ thể quyền SHTT “nản lòng” khi phải “chạy theo” các vòng tố tụng tại Tòa án. Theo quy định pháp luật tố tụng dân sự, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án dân sự là 4 tháng, đối với các vụ án kinh doanh – thương mại là 2 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án; đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì có thể gia hạn nhưng không quá 2 tháng đối với vụ án dân sự và 1 tháng đối với vụ án kinh doanh thương mại[10]. Tuy nhiên, trên thực tế, đa số các vụ án giải quyết tranh chấp về quyền SHTT tại Tòa án thì thời gian giải quyết thường bị kéo rất dài, vì đối tượng tranh chấp quyền SHTT đa dạng, để đánh giá được hành vi xâm hại hay xác định được thiệt hại phải chờ có ý kiến kết luận của các cơ quan chuyên môn. Vì lẽ đó, thay vì yêu cầu cơ quan Tư pháp bảo vệ quyền và lợi ích bị xâm phạm, các tổ chức, cá nhân bị xâm phạm quyền SHTT thường yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý biện pháp hành chính đối với hành vi xâm phạm để đạt hiệu quả nhanh chóng, kịp thời.

Việc sử dụng biện pháp dân sự để giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT được đánh giá là cơ chế bảo vệ quyền SHTT phổ biến và hữu hiệu nhất tại đa số các nước trên thế giới. Chúng ta thừa nhận: “Nâng cao vài trò của việc giải quyết tranh chấp quyền SHTT bằng biện pháp dân sự, hạn chế áp dụng các biện pháp hình sự hoặc hành chính; vì quyền SHTT là chế định pháp luật dân sự, thuộc quan hệ pháp luật dân sự”[11]. Để đáp ứng được những nội dung thỏa thuận trong Hiệp định TPP với quyền SHTT được bảo hộ theo một chuẩn mực cao hơn, chặt chẽ hơn nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT một cách thực chất. Theo đó, TPP quy định các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ quy định trách nhiệm dân sự, hành chính và hình sự một cách rõ ràng đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT; các chế tài này không những chỉ nhằm bù đắp những thiệt hại cho chủ thể quyền SHTT mà còn nhằm răn đe, ngăn chặn những hành vi xâm phạm trong tương lai. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, biện pháp buộc bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm dân sự cũng cần được quy định rõ ràng, nghiêm khắc đối với hành vi xâm phạm. Đồng thời, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp quyền SHTT cũng cần được sửa đổi phù hợp với thực tiễn xét xử.

  1. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo Tòan tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.

Pháp luật tố tụng dân sự quy định: “Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu[12]. Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm là biện pháp bắt buộc (trừ một số trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định) để Tòa án xem xét ban hành quyết định áp dụng BPKCTT. Theo quy định của pháp luật thì người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các BPKCTT phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT từ phía người có quyền yêu cầu. Áp dụng quy định này thì nhiều Tòa án hiểu “khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện”. Có Tòa án hiểu là giá trị tài sản mà Tòa án buộc người có yêu cầu thực hiện BPKCTT phải bằng giá trị tài sản áp dụng BPKCTT.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra cho người bị áp dụng biện pháp đó trong trường hợp người đó không xâm phạm quyền SHTT. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này, người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp khoản bảo đảm bằng một trong các hình thức sau đây: a) Khoản tiền bằng 20% giá trị hàng hóa cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc tối thiểu 20.000.000 đồng nếu không thể xác định được giá trị hàng hóa đó…[13]. Như vậy, quy định áp dụng BPKCTT theo Luật SHTT là không bảo đảm quyền lợi cho người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT nếu họ không xâm phạm quyền SHTT. Cũng chính vì chưa có sự hướng dẫn thống nhất áp dụng BPKCTT giữa quy định của pháp luật nêu trên đã tạo ra tâm lý cho Thẩm phán “ngại” áp dụng khi người khởi kiện có yêu cầu. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần áp dụng theo BLTTDS khi người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải nộp khoản bảo đảm ương đương thiệt hại thực tế do việc áp dụng BPKCTT không đúng gây ra chưa xảy ra; cho nên, để ấn định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương với nghĩa vụ tài sản, thì Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử phải dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra.

  1. Xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền SHTT

Như chúng ta đã biết, nguyên tắc xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền SHTT là: Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng. Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền SHTT phải chịu do hành vi xâm phạm quyền SHTT gây ra[14].

Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền SHTT, trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền SHTT đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây: Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất. Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng SHTT trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện. Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo quy định trên thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá 500 triệu đồng. Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm Quyền SHTT đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại. Ngoài ra, còn có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm Quyền SHTT phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư[15].

Thực tế cho thấy, nguyên đơn thường không chứng minh được một cách chính xác các thiệt hại thực tế xảy ra. Phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án xác định giá trị thiệt hại trên cơ sở giá trị của hàng hóa, dịch vụ mà nguyên đơn cho rằng bị xâm phạm Quyền SHTT; còn phía bị đơn thừa nhận có hành vi xâm phạm Quyền SHTT lại yêu cầu Tòa án xác định giá trị thiệt hại trên cơ sở giá niêm yết hàng hóa, dịch vụ của bị đơn. Nếu nguyên đơn không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất dành cho Tòa án ấn định với mức tố đa không quá 500 triệu đồng là không có cơ sở thuyết phục.

Theo BLTTDS quy định: “Chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả cho luật sư theo thỏa thuận của đương sự với luật sư trong phạm vi quy định của tổ chức hành nghề luật sư và theo quy định của pháp luật. Chi phí cho người phiên dịch, luật sư do người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác[16]. Như vậy, trong tố tụng dân sự, chi phí cho luật sư do người yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác. Tuy nhiên, theo Luật SHTT, thì chủ thể quyền SHTT có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư[17]. Chi phí hợp lý để thuê luật sư là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc; kỹ năng, trình độ của luật sư và lượng thời gian cần thiết để nghiên cứu vụ việc. Mức chi phí bao gồm mức thù lao luật sư và chi phí đi lại, lưu trú cho luật sư. Mức thù lao do luật sư thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý dựa trên các căn cứ và phương thức tính thù lao quy định tại Điều 55 Luật Luật sư.

So với tranh chấp dân sự thông thường, chỉ riêng tranh chấp quyền SHTT pháp luật mới có quy định bên có hành vi xâm phạm quyền SHTT phải thanh toán chi phí hợp lý thuê Luật sư cho chủ sở hữu quyền SHTT bị xâm phạm. Còn thực tế, hầu hết các vụ án tranh chấp quyền SHTT giải quyết tại Tòa án thì các bên tranh chấp đều thuê luật sư. Về chị phí luật sư, phía chủ thể quyền SHTT cho rằng, có hành vi xâm phạm quyền SHTT nhiều vụ đội lên rất cao và ngày càng có các chi phí mới phát sinh như: Chi phí luật sư lập vi bằng nhằm cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Vấn đề đặt ra là, cần xác định chi phí thuê Luật sư thế nào cho phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế. Chúng tôi đồng tình với ý kiến cho rằng: “Đối với chi phí để thuê Luật sư phải là các khoản chi cụ thể cho việc Luật sư tiến hành công việc, chi phí này phải hợp lý theo giá trung bình để hoàn thành công việc, căn cứ để thanh toán là hóa đơn, chứng từ do đương sự cung cấp”[18]. Theo TPP, trong vụ án tranh chấp quyền SHTT, bên bị Tòa án đưa ra phán quyết thua kiện thì phải trả cho bên thắng kiện mọi án phí, lệ phí Tòa án và các khoản chi phí luật sư thỏa đáng, hoặc bất kỳ chi phí nào khác được quy định theo pháp luật của từng nước. Theo quy định của BLTTDS hiện hành cũng như Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì đương sự phải chịu Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận[19]. Còn đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc hủy bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử sơ thẩm lại thì đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm[20]. Như vậy, nguyên tắc cơ bản là người nào không được chấp nhận yêu cầu thì phải chịu án phí; còn người nào được chấp nhận yêu cầu không phải chịu án phí. Vì vậy, bên có hành vi vi phạm quyền SHTT, ngoài việc phải chịu chi phí thuê luật sư cho chủ thể quyền SHTT, còn phải chịu án phí theo quy định. Do đó, chúng tôi thiết nghĩ, cần có quy định cụ thể chi phí thuê luật sư đối với vụ án tranh chấp quyền SHTT như thế nào là hợp lý.

  1. Giám định sở hữu trí tuệ

Các tranh chấp về quyền SHTT là một trong các tranh chấp dân sự nói chung được giải quyết theo các trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTDS. Theo đó, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự. Kết luận giám định là một nguồn chứng cứ quan trọng[21]. Tuy nhiên, theo Luật SHTT thì  cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT có quyền trưng cầu giám định về SHTT khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý. Chủ thể quyền SHTT và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về SHTT để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình[22]. Song theo BLTTDS về người giám định chỉ quy định chung chung “Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định của lĩnh vực có đối tượng cần giám định[23]. Còn Luật SHTT quy định: “Giám định về SHTT là việc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến vụ việc xâm phạm quyền SHTT[24].

Giám định tư pháp trong lĩnh vực SHTT đã có những quy định cụ thể cơ quan có thẩm quyền giám định, trình tự, thủ tục giám định, cụ thể: “Lĩnh vực giám định về quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại điểm a khoản 2 Điều 39 của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 09 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP bao gồm các chuyên ngành: Giám định quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học quy định tại Điều 14 Luật SHTT; Giám định quyền liên quan đối với các đối tượng quyền liên quan quy định tại Điều 17 Luật SHTT[25]. Còn giám định về SHCN do Viện Khoa học SHTT, Bộ Khoa học và Công nghệ tiến hành hoạt động giám định về sở hữu công nghiệp (SHCN) dựa trên các căn cứ các quy định pháp luật: Điều 201 Luật SHTT; các Điều từ 39 đến 53 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 119/2010/ NĐ-CP ngày 30/12/2010. Thông tư số 01/2008/TT-BKHCN ngày 25/2/2008 được sửa đổi theo Thông tư số 04/2009/TT-BKHCN ngày 27/3/2009 hướng dẫn việc cấp, thu hồi thẻ giám định viên SHCN và giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định SHCN.

Trong quá trình giải quyết vụ án đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT thì một vấn đề đặt ra cho Tòa án là, việc đánh giá chứng cứ thông qua hoạt động giám định SHTT. Mặc dù, các quy định của pháp luật hiện nay về hoạt động giám định SHTT tương đối đầy đủ, nhưng vẫn còn một số vấn đề tồn tại, vướng mắc từ thực tiễn hoạt động của các cơ quan chức năng đã ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động tố tụng. Giám định SHTT là một nội dung của hoạt động giám định tư pháp, do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phục vụ cho việc giải quyết các vụ án. Đối với quyền SHTT là một lĩnh vực có nhiều đối tượng khác nhau như: quyền SHCN, quyền tác giả (QTG) và các quyền liên quan đến QTG, quyền đối với giống cây trồng. Tuy nhiên, khi xảy ra các hành vi xâm phạm đến các đối tượng này, khi có yêu cầu trưng cầu giám định để thu thập chứng cứ; do số lượng đội ngũ giám định viên còn hạn chế nên không thể đáp ứng được yêu cầu của thực tế làm ảnh hưởng tới hiệu quả của quá trình tố tụng. Ngoài ra, nhiều đối tượng của quyền SHTT có tính đặc thù cao như các đối tượng của QTG đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các chương trình phần mềm, các giống cây trồng mới, các nhãn hiệu hàng hóa tương tự gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng đòi hỏi đội ngũ giám định viên bên cạnh trình độ chuyên môn và kiến thức chuyên sâu về đối tượng giám định; đồng thời, phải có trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho quá trình giám định, nhưng hiện nay trong hoạt động giám định về SHTT nếu thiếu các trang thiết bị, máy móc, phương tiện phục vụ cho công tác này sẽ hạn chế lớn đến kết quả giám định của các giám định viên. Hiện nay, Viện Khoa học SHTT là tổ chức đủ điều kiện giám định quyền SHCN; có 4 người đủ điều kiện hoạt động giám định SHCN; trong đó có 2 người hoạt động độc lập, còn 2 người hoạt động thuộc Viện Khoa học SHTT.

Thực tế, khi chủ sở hữu quyền SHTT nghi ngờ có hành vi xâm phạm quyền SHTT, họ đã tiến hành trưng cầu giám định tại Viện Khoa học SHTT để xác định có hành vi xâm phạm hay không. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn không chấp nhận kết quả mà phía nguyên đơn xuất trình đã có kết luận giám định của Viện Khoa học SHTT và bị đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định lại ở một tổ chức giám định SHTT khác. Trong khi đó, việc: “Giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng về các nội dung cần giám định hoặc có phát sinh tình tiết mới cần làm rõ. Yêu cầu giám định bổ sung và việc thực hiện giám định bổ sung phải tuân theo các quy định đối với giám định lần đầu; Giám định lại được thực hiện trong trường hợp người trung cầu, yêu cầu giám định không đồng ý với kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn giữa các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định. Việc giám định lại có thể do tổ chức giám định, giám định viên đã giám định trước đó hoặc do tổ chức giám định, giám định viên khác thực hiện theo yêu cầu của người trưng cầu, yêu cầu giám định; Trong trường họp có mâu thuẫn giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một vấn đề cần giám định thì có thể tiếp tục yêu cầu, trưng cầu tổ chức, giám định viên khác thực hiện việc giám định lại”[26].

Đối với các tranh chấp về xác lập quyền SHTT, tranh chấp yêu cầu hủy bỏ hiệu lực của văn bằng bảo hộ đối tượng SHCN, tranh chấp hợp đồng chuyển giao quyền SHTT, Tòa án luôn phải dựa vào ý kiến của các cơ quan chuyên môn và kết luận giám định của cơ quan giám định đối tượng SHTT làm căn cứ để xét xử. Mặc dù, trong nhiều trường hợp Tòa án hoàn Tòan có thể căn cứ vào chứng cứ mà các bên đương sự cung cấp để đưa ra phán quyết của mình. Vì “Tâm lý phụ thuộc, thiếu hiểu biết đã dẫn đến tình trạng Tòa án luôn đẩy ‘quả bóng” này cho Cục SHTT hay Cục Bản quyền tác giả”[27]. Để chờ đợi ý kiến của các cơ quan chuyên môn và kết luận giám định của cơ quan giám định, Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án có khi kéo dài một năm; nhiều vụ án ý kiến của các cơ quan chuyên môn và kết luận giám định của cơ quan giám định là không thống nhất, làm cho Tòa án rất khó đánh giá đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT. 

Vì vậy, chúng tôi cho rằng, ngoài việc phát triển đội ngũ giám định viên trong từng đối tượng SHTT; hoàn thiện quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục và điều kiện giám định lại; thì Tòa án cần có cơ chế chủ động phối hợp với cơ quan chuyên môn trong việc trưng cầu giám định, tham khảo ý kiến có hiệu quả nhất; Thẩm phán trực tiếp giải quyết độc lập đánh giá chứng cứ và đưa ra phán quyết, không trông chờ, ỷ lại vào kết luận giám định.

  1. Năng lực của Tòa án trong giải quyết tranh chấp quyền SHTT

Như chúng ta đã biết, với tính đa dạng của đối tượng SHTT, tính phức tạp của các loại tranh chấp quyền SHTT, nhưng Tòa án các cấp không có Thẩm phán được đào tạo chuyên biệt về SHTT, việc Thẩm phán được phân công giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này hoàn Tòan do ngẫu nhiên; cùng tranh chấp quyền SHTT, căn cứ vào mục đích của các bên tranh chấp là có lợi nhuận hay không có lợi nhuận để phân biệt tranh chấp dân sự (Tòa Dân sự giải quyết) và tranh chấp kinh doanh – thương mại (Tòa Kinh tế giải quyết). Đồng thời, tranh chấp quyền SHTT giải quyết tại Tòa án các cấp còn rất ít so với các loại tranh chấp dân sự thông thường; dẫn đến “sự va chạm” đối với các tranh chấp SHTT không thường xuyên. Tâm lý của các Thẩm phán trực tiếp được phân công giải quyết tranh chấp quyền SHTT rất e ngại. Do không có chuyên môn nghiệp vụ sâu nên trong phần nhận định của các bản án của Thẩm phán xét xử thường không nêu được các căn cứ vững chắc để đánh giá hành vi xâm phạm quyền SHTT; các quyết định của Tòa án các cấp giải quyết trong cùng một vụ án nhiều khi trái ngược nhau.

Để nâng cao năng lực cho các bộ Tòa án và Thẩm phán giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT, có rất nhiều giải pháp đã được nêu ra như: phải có Thẩm phán chuyên biệt xét xử các tranh chấp về quyền SHTT, phải thành lập một Tòa chuyên trách xét xử về quyền SHTT, phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ về SHTT cho cán bộ Tòa án và Thẩm phán; phải thường xuyên tổng kết công tác xét xử, đúc rút kinh nghiệm xét xử các tranh chấp về quyền SHTT; tổ chức thêm nhiều buổi hội thảo, tọa đàm trong nước và Quốc tế cho cán bộ Tòa án và Thẩm phán tham dự. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với các giải pháp nêu trên; song hiện nay, sống lượng các vụ án tranh chấp quyền SHTT giải quyết tại Tòa án còn ít so với tranh chấp dân sự, nên việc xây dựng một đội ngũ Thẩm phán chuyên biệt về SHTT hay thành lập Tòa chuyên trách về SHTT là không có tính khả thi. Do đó, trước hết Tòa án cần thường xuyên nâng cao nghiệp vụ cho Thẩm phán về lĩnh vực SHTT và đề cao trách nhiệm độc lập xét xử của Thẩm phán.  

Kết luận

Tài sản trí tuệ phát triển cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ của kinh tế tri thức. Để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tạo ra một môi trư­ờng kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh tạo sự hấp dẫn, thu hút vốn đầu t­ư n­ước ngoài, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quan trọng hơn là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản trí tuệ. Song hành với sự phát triển, pháp luật bảo hộ quyền tài sản trí tuệ ngày càng phải hoàn thiện. Định hướng phát triển của cơ quan tư pháp là nâng cao năng lực và hiệu quả thực thi quyền SHTT; định hướng phát triển của hệ thống Tòa án là nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực SHTT./.

  

[1] Khoản 4 Điều 26 và khoản 2 Điều 30 BLTTDS năm 2015.

[2] Điều 25, Điều 27, Điều 33, Điều 34 BLTTDS năm 2004.

[3] Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

[4] Điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015.

[5] Khoản 4 Điều 6 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

[6] Nguyễn Như Quỳnh (2010), “Một số vấn đề về giải quyết tranh chấp sử hữu trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự”, thanhtra.most.gov.vn, truy cập ngày 26/10/2016.

[7] Phan Gia Quý (2016), “Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ”, Tọa đàm nhằm tăng cường năng lực giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, ngày 22-23/9/2016, Toa án nhân dân tối cao – Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản, Hà Nội.

[8] Điều 199 Luật SHTT năm 2005.

[9] Điều 202 Luật SHTT năm 2005.

[10] Điều 203 BLTTDS năm 2015.

[11] Ths. Nguyễn Văn Tiến (2016), “Thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân”, Tọa đàm nhằm tăng cường năng lực giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, ngày 22-23/9/2016, Toa án nhân dân tối cao – Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản, Hà Nội.

[12] Khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015.

[13] Khoản 2 Điều 208 Luật SHTT năm 2005.

[14] Điều 204 Luật SHTT năm 2005.

[15] Điều 205 Luật SHTT năm 2005.

[16] Khoản 2 và 3 Điều 168 BLTTDS năm 2015.

[17] Khoản 3 Điều 205 Luật SHTT năm 2005.

[18] Phạm Văn Toàn (2013), “Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự tại Việt Nam, thực tiễn pháp luật và đề xuất hoàn thiện”, thanhtra.most.gov.vn, truy cập ngày 2/11/2016.

[19] Điều 147 BLTTDS năm 2015, Điều 27 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án.

[20] Điều 148 BLTTDS năm 2015, Điều 28 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án.

[21] Điều 90 BLTTDS năm 2004 và mục 6 Phần IV của Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; khoản 2 Điều 102 BLTTDS năm 2015 và khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

[22] Khoản 1 và 2 Điều 201 của Luật SHTT năm 2005.

[23] Điều 67 BLTTDS năm 2004.

[24] Khoản 3 Điều 201 của Luật SHTT năm 2005 và điểm a và c khoản 2 Điều 40 của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 của Chính phủ.

[25] Khoản 2 Điều 3 Thông tư 15/2012/BVHTTDL ngày 13/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về hướng dẫn giám định quyền tác giả và quyền liên quan.

[26] Điều 50 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ.

[27] TS. Lê Ngọc Lâm (2016), “Những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ từ góc nhìn thực tiễn”, Tọa đàm nhằm tăng cường năng lực giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, ngày 22-23/9/2016, Toa án nhân dân tối cao – Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản, Hà Nội.

0.02699 sec| 2191.031 kb